Tin tức mới nhất

Giải pháp để áp dụng thành công IFRS tại Việt Nam

GIẢI PHÁP ĐỂ ÁP DỤNG THÀNH CÔNG IFRS TẠI VIỆT NAM

Ông Trịnh Đức Vinh, Phó Cục trưởng – Cục Quản lý giám sát kế toán và kiểm toán – Bộ Tài chính

Chủ nhiệm CLB Kế toán trưởng toàn quốc

TÓM TẮT

Việc xây dựng phương án, lộ trình công bố áp dụng IFRS phải phù hợp với yêu cầu cải cách trong quản lý tài chính – ngân sách; phù hợp với xu hướng phát triển của các doanh nghiệp; đảm bảo ổn định hệ thống tài chính, tiền tệ; đảm bảo tính khả thi trong công tác quản lý, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước và khả năng thực hiện của doanh nghiệp, mang lại hiệu quả thiết thực. Để áp dụng thành công IFRS tại Việt Nam, Bộ Tài chính đã và đang thực hiện đồng bộ rất nhiều công việc như: dịch IFRS ra tiếng Việt, nghiên cứu, xây dựng Thông tư về cách thức áp dụng IFRS, đào tạo nguồn nhân lực… Ngoài ra, các doanh nghiệp và đối tượng liên quan cũng cần có những sự chuẩn bị, thay đổi trong tư duy và nhận thức, trang bị cho mình những kỹ năng và kiến thức mới

1. Bối cảnh và sự cần thiết xây dựng lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam

Cùng với xu hướng toàn cầu hóa về hợp tác và phát triển kinh tế, kế toán không còn là vấn đề mang tính nội tại, riêng biệt của từng quốc gia. Vì vậy, để phù hợp với yêu cầu đa dạng của doanh nghiệp (DN) cũng như các nhà đầu tư, các quốc gia thường cho phép các DN lựa chọn Chuẩn mực BCTC (BCTC) quốc gia hoặc Chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) khi lập và trình bày BCTC. Theo tài liệu của Ủy ban Chuẩn mực BCTC quốc tế (IASB), tính đến nay đã có 131/143 quốc gia và vùng lãnh thổ (chiếm tỷ lệ 93% các nước được IASB khảo sát) đã tuyên bố về việc cho phép áp dụng IFRS dưới các hình thức khác nhau.

Phương pháp áp dụng IFRS tại các quốc gia rất đa dạng, có quốc gia cho phép áp dụng cho cả BCTC riêng của DN và BCTC hợp nhất của tập đoàn, nhưng có quốc gia chỉ áp dụng IFRS cho BCTC hợp nhất. Với các nước chưa cho phép DN áp dụng IFRS thì cũng đang trong xu thế điều chỉnh hệ thống chuẩn mực BCTC quốc gia để phù hợp và tiệm cận gần hơn với IFRS. Việc cho phép áp dụng IFRS hay không tùy thuộc vào điều kiện phát triển và tình hình thực tế của từng quốc gia. Tuy nhiên định hướng chung là áp dụng IFRS cho các đơn vị có lợi ích công chúng, còn đối với các đơn vị không có lợi ích công chúng thì thường áp dụng chuẩn mực BCTC quốc gia hoặc có thể tự nguyện áp dụng IFRS.

Trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2005, Việt Nam đã ban hành 26 Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) bằng cách vận dụng có chọn lọc các quy định của chuẩn mực quốc tế phù hợp với điều kiện nền kinh tế và trình độ quản lý trong nước. Tuy nhiên, do đã được ban hành cách đây hơn 10 năm mà chưa được sửa đổi, bổ sung nên VAS ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế, một số nội dung chưa phù hợp với các giao dịch của kinh tế thị trường trong giai đoạn mới, nhất là trong bối cảnh thị trường vốn phát triển mạnh mẽ, xuất hiện nhiều loại công cụ tài chính phức tạp. Hơn nữa, hiện nay Việt Nam mới ban hành được 26 VAS nên còn thiếu rất nhiều chuẩn mực so với thông lệ quốc tế như các chuẩn mực về nông nghiệp, về thăm dò và khai thác tài nguyên khoáng sản, về nhóm công cụ tài chính phái sinh, về giá trị hợp lý, về tổn thất tài sản,… dẫn đến khi các doanh nghiệp có phát sinh các giao dịch kinh tế thuộc nhóm các chuẩn mực này thì chưa có cơ sở pháp lý để thực hiện hạch toán kế toán dẫn đến khó khăn cho công tác kế toán của doanh nghiệp.

Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình cải cách hành chính và thể chế một cách mạnh mẽ, hoạt động đầu tư nước ngoài ngày càng trở nên sôi động, nhu cầu các doanh nghiệp Việt Nam niêm yết hoặc thu hút vốn trên thị trường nước ngoài ngày càng gia tăng. Đặc biệt thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ, thu hút ngày càng nhiều các nhà đầu tư, tổ chức nước ngoài đến tìm kiếm cơ hội kinh doanh. Từ thực tế nêu trên, để đáp ứng yêu cầu quản lý của nền kinh tế trong giai đoạn mới, Chính phủ có chủ trương phải xây dựng phương án, lộ trình công bố để áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế, góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới cũng như công cuộc cải cách thể chế tại Việt Nam.

2. Lợi ích của việc áp dụng IFRS

– Trong bối cảnh kế toán được xem như là một ngôn ngữ kinh doanh toàn cầu thì việc cho phép áp dụng IFRS sẽ giúp các cơ quan quản lý Nhà nước, chủ sở hữu, nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài có công cụ để đánh giá và so sánh thông tin tài chính giữa các đơn vị theo cùng một ngôn ngữ, chuẩn mực chung để đưa ra các quyết định kinh tế một cách phù hợp. Một trong những lý do Việt Nam hiện nay chưa được công nhận là quốc gia có nền kinh tế thị trường do hệ thống chuẩn mực BCTC để phản ánh các giao dịch kinh tế của các DN hiện còn chưa đầy đủ và lạc hậu so với thông lệ quốc tế. Vì vậy, việc cho phép áp dụng IFRS tại Việt Nam sẽ là góp phần để cộng đồng quốc tế sớm công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường đầy đủ, từ đó khơi thông dòng vốn FDI, thể hiện cam kết mạnh mẽ của Chính phủ trong việc bảo vệ các nhà đầu tư và tạo dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.

– Việc áp dụng IFRS sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp đủ điều kiện niêm yết trên thị trường quốc tế hoặc nhận được các khoản vay ưu đãi từ các định chế tài chính quốc tế như WB, IMF, ADB… Các doanh nghiệp FDI là công ty con của các tập đoàn xuyên quốc gia sẽ không còn phải mất thêm chi phí để chuyển đổi BCTC sang IFRS cho mục đích hợp nhất BCTC với công ty mẹ ở nước ngoài.

Việc áp dụng IFRS sẽ tạo dựng khuôn khổ pháp lý cho việc kế toán nhiều loại công cụ tài chính, tài sản và nợ phải trả theo giá trị hợp lý. Việc xây dựng các quy định cụ thể về công cụ tài chính, giao dịch phái sinh tác động mạnh mẽ đến cả thị trường sơ cấp (thị trường phát hành công cụ tài chính) và thị trường thứ cấp (thị trường giao dịch). Đối với thị trường sơ cấp, các ngân hàng và tổ chức tài chính có căn cứ pháp lý rõ ràng để hạch toán các loại công cụ tài chính được phát hành mới như hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn và hợp đồng hoán đổi. Đối với thị trường thứ cấp, hệ thống chuẩn mực BCTC về công cụ tài chính được ban hành đầy đủ sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư vào các công cụ tài chính phái sinh như một loại chứng khoán trên sàn giao dịch tập trung. Đặc biệt, việc áp dụng IFRS là một trong những yếu tố để nâng hạng cho thị trường chứng khoán Việt Nam.

– Việc áp dụng IFRS sẽ nâng cao tính minh bạch và trung thực của BCTCBCTC, giúp bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư do IFRS yêu cầu các khoản mục của BCTC phải được ghi nhận và trình bày theo bản chất hơn là hình thức hay tên gọi của giao dịch, vì vậy sẽ giảm thiểu tác động của hình thức giao dịch đến phương pháp kế toán, từ đó làm tăng khả năng so sánh giữa BCTC của DN Việt Nam với các DN khác trong khu vực và thế giới.

– IFRS yêu cầu trình bày và thuyết minh chi tiết về những rủi ro mà DN có thể gặp phải như rủi ro kinh doanh, rủi ro tín dụng, rủi ro chính sách…, nhằm cung cấp thông tin đầy đủ hơn cho các nhà đầu tư, chủ nợ khi quyết định đầu tư vào DN.  IFRS cũng yêu cầu áp dụng nhiều mô hình tài chính để xác định giá trị tài sản và nợ phải trả theo giá trị hợp lý, giá trị có thể thu hồi, giá trị sử dụng, giá trị thời gian, giá trị nội tại… Vì vậy, thông tin tài chính được cung cấp trên nền tảng IFRS sẽ giúp DN đánh giá được tình hình tài chính tại thời điểm báo cáo cũng như giúp Ban Giám đốc có được những thông tin phục vụ tốt hơn cho việc dự báo kết quả hoạt động và dòng tiền trong tương lai, từ đó có căn cứ và công cụ để thực hiện công tác quản trị, điều hành phù hợp với tình hình thực tiễn.

Khi áp dụng IFRS, các DN sẽ phát sinh một số chi phí đầu tư ban đầu phục vụ cho việc đào tạo lại nguồn nhân lực cũng như thay đổi hệ thống thông tin, phần mềm kế toán. Mặc dù các chi phí đầu tư ban đầu là tương đối lớn nhưng xét về lâu dài thì những lợi ích từ việc minh bạch hóa thông tin, thu hút nhà đầu tư không những sẽ mang lại lợi ích nhiều hơn các chi phí ban đầu mà còn giúp DN phát triển ổn định, bền vững.

3. Những giải pháp doanh nghiệp cần chuẩn bị để áp dụng IFRS thành công

Việc áp dụng IFRS là một công việc lớn, đòi hỏi sự chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng của DN. Để áp dụng IFRS thành công và hiệu quả, doanh nghiệp cần triển khai đồng bộ 7 nhóm giải pháp chủ chốt, bao gồm:

(1) Xây dựng chiến lược và ngân sách

Việc xây dựng chiến lược và ngân sách đóng vai trò then chốt trong quá trình áp dụng IFRS do trong giai đoạn đầu tiên (giai đoạn tự nguyện) và ngay cả giai đoạn sau 2025 (nếu doanh nghiệp không thuộc đối tượng bắt buộc áp dụng IFRS), chủ sở hữu doanh nghiệp là người quyết định việc áp dụng IFRS tại doanh nghiệp mình. Vì vậy nhận thức của chủ sở hữu doanh nghiệp là vô cùng quan trọng, họ chính là người xây dựng chiến lược phát triển, người quyết định tính minh bạch của doanh nghiệp và là người bố trí ngân sách cho việc triển khai áp dụng IFRS.

Chủ sở hữu sẽ xác định nhu cầu áp dụng IFRS; Xác định phương án, lộ trình cụ thể áp dụng cho DN của mình; Công bố thông tin về lộ trình, phương án áp dụng cho các nhà đầu tư Để làm được điều này, Ban lãnh đạo DN cần tích cực tham gia chỉ đạo, điều hành trong suốt quá trình triển khai áp dụng IFRS; Thiết lập kênh thông tin với cơ quan hoạch định chính sách, DN kiểm toán, hội nghề nghiệp, nhà tư vấn. Ngoài ra chủ sở hữu cần xây dựng chính sách kế toán rõ ràng, nhất quán giữa công ty mẹ và các công ty con; phân định ranh giới giữa BCTC và báo cáo thuế, báo cáo quản trị nội bộ; Tính toán và cung cấp đầy đủ các nguồn lực cho việc áp dụng IFRS.

(2) Đào tạo nguồn nhân lực

Hầu hết các kế toán viên và kiểm toán viên tại Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm áp dụng IFRS trong khi IFRS chứa đựng nhiều nội dung mới, phức tạp. Vì vậy, việc đào tạo nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng khi doanh nghiệp quyết định áp dụng IFRS. Do thông tin kế toán lại không đến từ chính bộ phận kế toán mà lại đến từ các bộ phận khác như bộ phận tài chính, bộ phận bán hàng, bộ phận quản trị…. nên cần phải xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực kịp thời, bài bản, liên tục và lâu dài, không những phải đào tạo cho bộ máy kế toán mà còn phải trang bị kiến thức, hiểu biết cơ bản về tài chính cho Ban Giám đốc, cán bộ quản lý chủ chốt; Thay đổi tư duy lãnh đạo, nâng cao ý thức tuân thủ, tổ chức bộ phận pháp chế tại các DN đủ mạnh. Song song với đó, để việc đào tạo nguồn nhân lực có hiệu quả, doanh nghiệp cần tận dụng kiến thức, hiểu biết, sự hỗ trợ và nguồn lực từ các DN kiểm toán, tư vấn, nhà đầu tư nước ngoài, hội nghề nghiệp.

(3) Tổ chức bộ máy kế toán và xây dựng quy chế phối hợp giữa các bộ phận

Việc tái cầu trúc lại bộ máy doanh nghiệp cũng là công việc hết sức cần thiết, đặc biệt phải quan tâm đến việc tổ chức bộ máy kế toán một cách phù hợp, thông suốt từ công ty mẹ đến công ty con và các đơn vị trực thuộc; Có nhân lực chuyên trách về IFRS và BCTC hợp nhất. Bộ phận tài chính, kinh doanh, bán hàng cần thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với bộ phận kế toán để đảm bảo cung cấp thông tin về mô hình kinh doanh, hợp đồng kinh tế, dữ liệu tài chính. Đồng thời doanh nghiệp cần tổ chức bộ máy soát xét, kiểm tra, kiểm toán nội bộ; Chuẩn bị dữ liệu để giải trình với cơ quan quản lý, giám sát Nhà nước khi có yêu cầu.

(4) Xây dựng hệ thống công nghệ thông tin

Để áp dụng IFRS một cách có hiệu quả, doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống công nghệ thông tin đủ mạnh để đảm bảo hiệu quả, hiệu lực của công tác quản trị nội bộ; Đảm bảo kết nối giữa bộ phận kế toán, tài chính và các bộ phận khác; Đảm bảo kết nối giữa công ty mẹ và các công ty con, đơn vị trực thuộc. Do IFRS đáp ứng cho các doanh nghiệp ở các quốc gia phát triển, nơi doanh nghiệp có nguồn lực dồi dào, năng lực quản trị hiện đại nên thông tin cần được đáp ứng một cách nhanh chóng, phần mềm kế toán và quản trị doanh nghiệp cần tự động hóa ở mức cao. Mặt khác IFRS hướng đến việc cung cấp thôn tin dựa trên nền tảng tài sản thuần, vì vậy hệ thống công nghệ thong tin cũng cần phải đáp ứng được nhu cầu cung cấp BCTC ở bất cứ thời điểm nào cho các nhà đầu tư, cho các hoạt động tái cấu trúc M&A.

(5) Xây dựng cơ sở hạ tầng dữ liệu

IFRS yêu cầu báo cáo nhiều thông tin phù hợp với sự thay đổi của thị trường, như giá trị hợp lý, giá trị có thể thu hồi, giá trị thuần có thể thực hiện được, giá trị hiện tại, giá phí phân bổ… Vì vậy, việc xây dựng cơ sở hạ tầng dữ liệu một cách sẵn sàng và đồng bộ là rất quan trọng vì nếu thiếu dữ liệu thì không thể đáp ứng yêu cầu của IFRS. Doanh nghiệp cần tập trung vào việc xây dựng cả cơ sở dữ liệu tài chính (như: Giá trị hợp lý, đường cong lãi suất, lãi suất cố định và lãi suất thả nổi, lãi suất VND và lãi suất ngoại tệ; giá cả thị trường và giá trị hợp lý, tỷ giá hối đoái…) cũng như dữ liệu phi tài chính (như: thị phần, số lượng khách hàng, dung lượng sử dụng, mức tiêu thụ dịch vụ, sản phẩm, hàng hóa; tỷ lệ sản phẩm bảo hành…) để có thể định giá và áp dụng cho các mô hình tài chính theo yêu cầu của IFRS.

(6) Xây dựng quy trình chuyển đổi BCTC từ VAS sang IFRS

Trong giai đoạn đầu tiên áp dụng IFRS, doanh nghiệp có thể chưa thể lập được báo cáo tài chính theo IFRS từ các giao dịch cụ thể. Để khắc phục hạn chế này, doanh nghiệp có thể lập báo cáo tài chính theo IFRS và chuyển đổi sang IFRS. Tuy nhiên, quy mô, đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp đểu có sự khác biệt nên từng doanh nghiệp nên tự xây dựng cho mình một quy trình chuyển đổi báo cáo tài chính bằng cách xác định sự khác biệt giữa VAS và IFRS; Nhận diện các giao dịch, khoản mục trên BCTC cần chuyển đổi; Xây dựng hệ thống hồ sơ, dữ liệu mang tính kế thừa; Quy định trách nhiệm chuyển đổi BCTC phù hợp với đặc thù của DN mình; Xây dựng bộ quy tắc chuyển đổi BCTC với hướng dẫn cụ thể cho DN mình.

(7) Chuẩn bị nền tảng kỹ thuật cho việc lập và trình bày BCTC theo IFRS

Do VAS có sự khác biệt khá lớn so với IFRS nên doanh nghiệp cần chuẩn bị nền tảng kỹ thuật cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính theo IFRS. Nền tảng kỹ thuật được xác định dựa trên yêu cầu xác định giá trị, yêu cầu phân loại và trình bày các khoản mục trên BCTC của IFRS, ví dụ như:

–  Xác định các đơn vị tạo tiền của DN;

– Đối với TSCĐ và BĐSĐT: Phân loại rõ những loại TSCĐ, BĐSĐT cần đánh giá lại định kỳ;

– Đối với các tài sản dài hạn: Rà soát những tài sản tiếp tục sử dụng và nắm giữ để thanh lý để tái phân loại;

– Đối với các tài sản được ghi nhận theo FV: Chuẩn bị dữ liệu phù hợp với các phương pháp định giá, đặc biệt chú ý các tài sản không có giá niêm yết;

– Thường xuyên đánh giá lại độ tin cậy của các ước tính, như khả năng thu hồi nợ, thị phần, sự suy giảm giá trị của các tài sản;

– Thường xuyên đánh giá và tăng cường quản trị rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường;

– Thường xuyên rà soát các quy định về thuế để xác định các trường hợp có sự khác biệt giữa chính sách thuế và Chuẩn mực kế toán;

– Rà soát các hợp đồng thuê tài sản (thuê hoạt động), tiến hành phân loại hợp đồng thuê tài sản và hợp đồng thuê sử dụng dịch vụ;

– Rà soát lại mối quan hệ giữa công ty mẹ và các công ty con đảm bảo quyền kiểm soát của công ty mẹ đối với công ty con; Định hướng việc cung cấp thông tin tài chính tại  các công ty con, liên doanh, liên kết theo  cơ sở tài sản thuần;

– Các doanh nghiệp có cổ phần chi phối của nhà nước rà soát lại hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, xác định rõ những khoản mục cần hoãn lại theo luật định;

– Các doanh nghiệp lĩnh vực nông nghiệp: Sắp xếp, phân loại rõ TSCĐ, tài sản sinh học và hàng tồn kho là sản phẩm của hoạt động nông nghiệp;

– Các doanh nghiệp hoạt động trong thuộc lĩnh vực khai khoáng cần xác định trữ lượng và giá trị tài nguyên dưới lòng đất; xây dựng dữ liệu về chi phí hoàn nguyên môi trường;

– Ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp bảo hiểm chuẩn bị dữ liệu theo yêu cầu của IFRS 07, 09 và 17;

– Các doanh nghiệp có hoạt động đầu tư xây dựng tài sản dở dang sử dụng vốn vay ngoại tệ cần xác định chênh lệch lãi suất giữa VND và ngoại tệ.

4. Kỹ năng, kiến thức người làm công tác kế toán cần được trang bị để đáp ứng yêu cầu đổi mới về kế toán tại Việt Nam

Người làm công tác kế toán hãy trở thành một nhà kinh tế hơn là một ”kỹ thuật viên” kế toán đơn thuần. Trước đây chúng ta thường nghĩ rằng kế toán chủ yếu là việc ghi chép (BOOKEEPING) các giao dịch kinh tế phát sinh tại đơn vị, nhiệm vụ tổng hợp, phân tích thông tin và và trình bày báo cáo tài chính trong nhiều trường hợp chưa được nhấn mạnh là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Kèm theo đó, do còn mang nặng yêu cầu quản lý Nhà nước, kế toán được hướng đến mục đích đảm bảo số thu ngân sách hơn là phục vụ chính công tác quản trị, điều hành của bản thân doanh nghiệp. Vì vậy, Chế độ kế toán hướng đến coi trọng phương pháp ghi chép, lập các bút toán định khoản, phương pháp kế toán chịu ảnh hưởng nặng nề của các quy định về thuế, như: Yêu cầu các doanh nghiệp phải thực hiện hệ thống tài khoản thống nhất về số hiệu, tên gọi; Một số loại chứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán và các hình thức sổ kế toán phải theo mẫu và quy trình bắt buộc. Những vấn đề trên xuất phát từ cách tiếp cận chính sách của nền kinh tế tập trung bao cấp, với các quan điểm như không quản được thì cấm, Nhà nước thống nhất quản lý toàn diện, triệt để và  can thiệp vào mọi hoạt động kinh tế xã hội. Chính những quan niệm trói buộc có phần lạc hậu từ cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kế toán đã làm cho người làm công tác kế toán chưa nhận thức được vai trò tiên quyết của kế toán là phục vụ việc ra quyết định quản lý điều hành của chủ doanh nghiệp (nhà đầu tư) hơn là phục vụ mục đích thuế, chưa thoát ra được cái bóng của người ghi sổ (BOOKEEPER).

Ngay cả trên bình diện quốc tế, trước đây Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) cũng đặt tên cho Chuẩn mực của mình là Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) nhưng nay đã và đang chuyển đổi thành Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS). Việc đổi tên gọi Chuẩn mực quốc tế không đơn thuần chỉ là việc thay tên đổi họ cho một hệ thống Chuẩn mực, vấn đề cốt lõi là muốn nhấn mạnh đến mục đích của Chuẩn mực là cung cấp thông tin trên báo cáo tài chính chứ không phải là ghi chép kế toán.

Ai cũng biết thông tin tài chính được cung cấp đến công chúng là thông qua báo cáo tài chính, doanh nghiệp chỉ công bố báo cáo tài chính chứ không công bố sổ kế toán. Công việc kế toán cũng như một người đầu bếp vậy, sản phẩm cuối cùng của người đầu bếp là một bữa ăn thịnh soạn bao gồm các món ăn được chế biến một cách công phu thì sản phẩm cuối cùng của kế toán viên chính là báo cáo tài chính với các thông tin đã được chế biến (sắp xếp, trình bày và tổng hợp) để phản ánh các giao dịch và sự kiện theo đúng bản chất kinh tế của chúng. Việc ghi chép ban đầu trên sổ kế toán, tập hợp các thông tin trên hóa đơn đầu vào cũng tương tự như người đầu bếp phân loại các thực phẩm trước khi chế biến vậy và rõ ràng công đoạn đầu tiên này mới chỉ đóng vai trò thứ yếu, chưa thể coi là tất cả công việc cần phải làm.

Trong bối cảnh tin học hóa diễn ra mạnh mẽ, hầu hết các doanh nghiệp đã sử dụng phần mềm cho công tác kế toán. Các phần mềm ngày càng hiện đại đã giúp tiết kiệm công sức của người làm kế toán, làm thay nhiệm vụ của một BOOKEEPER, người làm công tác kế toán không còn phải lập các bút toán định khoản như trước đây khi làm kế toán thủ công và vì vậy kỹ năng định khoản Nợ, Có không còn được xem trọng, dần chuyển thành kỹ năng nhập dữ liệu là chính. Kế toán trước đây cũng như ngày nay hướng đến việc cung cấp thông tin tài chính hữu ích cho người sử dụng báo cáo tài chính nên người làm kế toán cần phải được trang bị các kỹ năng và kiến thức để lập và trình bày báo cáo tài chính một cách hợp lý và trung thực. Trong quá trình lập báo cáo tài chính, phần lớn thời gian được dùng để thu thập và xử lý dữ liệu và đây mới là công việc chính của người làm kế toán, việc nhập dữ liệu không phải là công việc tốn nhiều thời gian, kỹ năng  và công sức, thậm chí không cần đến người làm công tác kế toán phải đích thân nhập dữ liệu. Trên thực tế, thông tin tài chính ban đầu lại không xuất phát từ phòng kế toán mà đến từ các bộ phận kỹ thuật, kinh doanh, nghiên cứu thị trường, tổ chức…, người làm kế toán căn cứ vào các thông tin thô (các số liệu khô khan chưa có ý nghĩa và chưa có giá trị sử dụng) được các bộ phận liên quan cung cấp để xử lý thành thông tin tài chính hữu ích (các thông tin có giá trị sử dụng cho việc ra quyết định kinh tế).

Vậy, người làm kế toán cần được trang bị những kỹ năng và kiến thức gì?

– Thứ nhất, là kiến thức về nguyên lý kế toán, để hiểu được những vấn đề cơ bản về kế toán. Nguyên lý kế toán đóng vai trò quan trọng, xuyên suốt trong quá trình tác nghiệp tại đơn vị vì việc lập và trình bày báo cáo tài chính đều gắn liền với nguyên lý, khuôn mẫu kế toán;

– Thứ hai, do phương pháp kế toán là khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của bất cứ ai mà chỉ bị ảnh hưởng bởi bản chất và cách thức vận hành của các giao dịch kinh tế, nên người làm kế toán phải được trang bị các kiến thức và có hiểu biết về giao dịch kinh tế, tài chính chứ không chỉ đơn thuần là kiến thức ghi chép sổ sách. Do sự đa dạng của thực tiễn, nhiều giao dịch kinh tế phát sinh không được hướng dẫn trong các văn bản quy phạm pháp luật nên người làm kế toán cần phải biết lựa chọn các nguyên tắc kế toán phù hợp để phản ánh giao dịch kinh tế phát sinh, vận dụng các nguyên tắc lý thuyết của chuẩn mực vào từng tình huống cụ thể của thực tiễn đơn vị;

– Thứ ba, người làm kế toán phải hiểu được yêu cầu của người sử dụng báo cáo tài chính để có thể cung cấp thông tin tài chính hữu ích. Như trên đã nói, phần lớn dữ liệu đầu vào cho kế toán không xuất phát từ bộ phận kế toán, như vậy người làm kế toán cần biết cách lấy dữ liệu, tức là đưa ra yêu cầu cụ thể đối với các bộ phận liên quan (bộ phận kỹ thuật, kinh doanh, chiến lược, thẩm định giá…) để họ có thể cung cấp được dữ liệu theo đúng yêu cầu cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính;

– Thứ tư, khi đã có dữ liệu được cung cấp, người làm kế toán cần có các kỹ năng để xử lý dữ liệu và trình bày các dữ liệu đó trên báo cáo tài chính, biến các con số khô khan trở thành các con số biết nói;

– Thứ năm, nhiều quy định của Chuẩn mực yêu cầu sử dụng các kỹ năng tính toán tài chính, như tính dòng tiền chiết khấu, xác định giá trị hợp lý, giá trị có thể thu hồi, ước tính tổn thất…Ngoài ra, do nhiệm vụ của kế toán là cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định quản lý của chủ doanh nghiệp nên người làm kế toán phải có được các kiến thức về tài chính, nắm được kỹ năng tổng hợp và phân tích thông tin tài chính quá khứ và dự báo trong tương lai;

– Thứ sáu, thực nghĩa nghĩa vụ với nngân sách Nhà nước luôn là một nhiệm vụ không thể thiếu của doanh nghiệp, vì vậy người làm kế toán phải có các kiến thức về kê khai, quyết toán thuế.

Tất cả các kỹ năng nêu trên đều có vai trò và vị trí của nó, tuy nhiên các kỹ năng lập và trình bày báo cáo tài chính, các hiểu biết về bản chất và cách thức vận hành của các giao dịch kinh tế đóng vai trò then chốt vì thiếu nó, người làm công tác kế toán không thể cung cấp được thông tin tài chính hữu ích cho người sử dụng báo cáo tài chính phục vụ việc ra các quyết định quản lý, điều hành – mục đích chính của công tác kế toán. Các kỹ năng ghi sổ kế toán (lập các bút toán định khoản), kê khai thuế đóng vai trò thứ yếu, chỉ mang tính chất hỗ trợ cho mục đích chính của công tác kế toán.

5. Về việc đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực

Nhà trường nên thực hiện phương châm đào tạo những gì xã hội cần hơn là đào tạo cái mình có, hãy chấm dứt phương pháp đào tạo theo kiểu “tầm câu trích cú”, đừng để sinh viên kế toán trở thành những con robot vì chỉ thuộc lòng lý thuyết mà không biết vận dụng lý thuyết vào thực tiễn.

Thực tiễn thì muôn hình vạn trạng trong khi lý thuyết mặc dù có sự thay đổi nhưng vẫn chỉ đề cập đến những nguyên tắc cốt lõi.  Trong bối cảnh thời lượng đào tạo môn kế toán có hạn, lại bị chi phối bởi các môn học khác trong chương trình đào tạo tổng thể, việc xây dựng phương pháp  đào tạo kế toán phù hợp càng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cho xã hội. Vậy làm thế nào để sinh viên ra trường có thể đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế? Đó là câu hỏi không dễ trả lời cho cả các cơ sở đào tạo và cơ quan quản lý Nhà nước.

Kế toán, không chỉ là Nợ – Có, đã có nhiều người nói như vậy. Kế toán thực sự là một môn khoa học logic nên việc đào tạo người làm kế toán trước tiên cần cung cấp cho họ phương pháp tư duy, phương pháp luận giải xử lý vấn đề hơn là bắt họ học thuộc lòng những bút toán định khoản khô khan. Hiện nay Chế độ kế toán doanh nghiệp có quy định chi tiết các bút toán kế toán, tuy nhiên chỉ là các bút toán của một số giao dịch kinh tế và cho dù có chi tiết hơn nữa cũng thể bao quát được toàn bộ các giao dịch kinh tế phát sinh trong đời sống kinh tế xã hội. Mặt khác, trong tương lai, khi ban hành lại các Chuẩn mực kế toán Việt Nam theo định hướng IFRS, Bộ Tài chính dự kiến sẽ không quy định Chế độ kế toán chi tiết như hiện nay mà thay vào đó là ban hành bộ hướng dẫn áp dụng Chuẩn mực kế toán. Các bút toán định khoản quy định cứng nhắc như hiện nay sẽ không còn mang tính bắt buộc mà chỉ mang tính hướng dẫn, tham khảo. Số hiệu tài khoản kế toán được xem xét trao lại cho doanh nghiệp tự đặt phù hợp với đặc điểm hoạt động của từng đơn vị để tránh tình trạng phải mapping với hệ thống tài khoản của công ty mẹ. Ngoài ra, hệ thống phần mềm kế toán đã hỗ trợ tối đa cho người làm kế toán trong việc lập các bút toán định khoản kế toán, việc lập các bút toán hầu như đơn thuần là nhập dữ liệu và chỉ đóng vai trò thứ yếu trong công tác kế toán. Vì vậy việc đào tạo kế toán không nên tập trung vào hướng dẫn định khoản kế toán như hiện nay (nếu mục tiêu chỉ là đào tạo người nhập dữ liệu thì không cần đến trình độ đại học) mà phải hướng đến đáp ứng yêu cầu cơ bản và xuyên suốt của kế toán là lập và trình bày báo cáo tài chính.

Việc đào tạo lý thuyết về kế toán và các Chuẩn mực báo cáo tài chính là quan trọng nhưng quan trọng hơn là việc vận dụng lý thuyết đó để xử lý công việc thực tế hàng ngày diễn ra tại đơn vị. Người làm kế toán giỏi là người biết cách chọn ra nguyên tắc kế toán phù hợp (trong số các nguyên tắc được quy định bởi Chuẩn mực) để vận dụng cho từng giao dịch và tình huống cụ thể. Ví dụ: Nguyên tắc ghi nhận doanh thu theo nghĩa vụ thực hiện đòi hỏi phải hoãn lại phần doanh thu tương ứng với nghĩa vụ chưa thực hiện và theo đó không được trích trước giá vốn. Nguyên tắc phù hợp đòi hỏi khi doanh thu đã được ghi nhận đầy đủ thì trong một số trường hợp phải trích trước giá vốn đối với những nghĩa vụ chưa thực hiện. Vậy làm thế nào để vận dụng 2 nguyên tắc này vào các tình huống cụ thể một cách phù hợp để có thể trình bày báo cáo tài chính trung thực, hợp lý mới là điều mà người làm kế toán thực sự cần. Việc đào tạo cho sinh viên cách thức vận dụng lý thuyết để giải quyết các vấn đề thực tiễn nên được thực hiện bằng các case study, ví dụ cùng là nguyên tắc ghi nhận doanh thu theo nghĩa vụ thực hiện nhưng đối với bất động sản nghỉ dưỡng sẽ xử lý khác so với chương trình Bông sen vàng của Vietnam Airlines….

Việc đào tạo kế toán hiện nay đang thực hiện đơn thuần theo hướng đưa ra cách thức phải làm như thế nào một cách cứng nhắc (đôi khi cách làm đó chưa chắc đã phù hợp) mà không cho người ta biết vì sao phải làm như vậy. Người học nếu chỉ được truyền thụ về cách làm thì sẽ dễ dàng biến thành những con robot và bị triệt tiêu mất sự sáng tạo. Để phát huy năng lực của người học, cần phải truyền đạt cho họ hiểu đạo lý vấn đề là gì, bản chất tài chính của các giao dịch kinh tế ra sao, từ đó mới quyết định cách thức cách giải quyết vấn đề hay nói cách khác người học ngoài việc biết cách làm như thế nào còn phải hiểu được tại sao cần làm như vậy, nếu không sẽ dẫn đến hậu quả gì và có cách nào để xử lý vấn đề tốt hơn hay không. Ví dụ việc đào tạo phải giúp cho học viên hiểu được tại sao được vốn hóa lãi vay nhưng không được vốn hóa lỗ chênh lệch tỷ giá, tại sao phải ghi giảm chi phí mà không ghi tăng doanh thu mặc dù việc ghi giảm chi phí hay tăng doanh thu đều dẫn đến kết quả lợi nhuận không khác biệt.

Việc quá chú trọng đào tạo kế toán để có thể kê khai và quyết toán thuế cũng cần phải xem xét lại. Về cơ bản, nguyên tắc kê khai, quyết toán thuế không thường xuyên bị thay đổi những các quy định chi tiết như thuế suất, các khoản chi phí được trừ và không được trừ khi xác định thuế TNDND… lại thường xuyên có thể thay đổi, thậm chí thay đổi hàng năm do thuế phục vụ mục đích điều tiết số thu NSNN hàng năm. Nếu tập trung vào việc đào tạo về kê khai, quyết toán thuế trong nhà trường thì rất có khả năng những kiến thức đó sẽ bị lạc hậu khi sinh viên tốt nghiệp. Vì vậy, chỉ cần đào tạo về nguyên lý và những kiến thức cơ bản về xử lý thuế là đủ đối với sinh viên chuyên ngành kế toán, những kiến thức thuế thực tiễn cần phải gắn với môi trường thực tế của doanh nghiệp hơn là đào tạo lý thuyết.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *